Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Nghiệm Xin Việc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Tin vui cho kinh tế khi các thương hiệu Mỹ đưa VN vào bản đồ cạnh tranh

Chẳng hạn, với nhãn hàng nước xả Downy, theo ông Đoàn Đình Hoàng, các quảng cáo TVC đã gần gũi hơn với người Việt, trong khi đó, ở nhãn dầu gọi Head&Shoulder, P&G đã chọn những người nổi tiếng trong giới showbiz Việt chuyển tại thông điệp truyền thông, thay vì "bê” nguyên TVC từ những thị trường khác sang phát tại Việt Nam như trước.
Pep - Coke: "Đỏ" rót thêm tiền, "xanh" mở liên minh
Liền sau vài ngày Pepsi công bố liên minh chiến lược với Suntory (Nhật Bản), Coca- Cola quyết định rót thêm cho thị trường Việt Nam 300 triệu USD. Cuộc đối đầu giữa hai hãng nước ngọt này bắt đầu ở "giai đọan 2" với những đầu tư lớn và có tính chiến lược.
Coca-Cola: Bỏ "du kích", đánh "tổng lực"
Coca-Cola sẽ rót thêm 300 triệu USD vào Việt Nam trong giai đoạn 2013 - 2015, nâng tổng số vốn đầu tư cam kết lên 500 triệu USD, để đầu tư nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhà máy tại Việt Nam, phát triển thương hiệu và thị trường, cũng như phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ đại lý bán lẻ.
Với khoản đầu tư mới của Coca - Cola, thị trường lại thêm một lần nữa thấy sự so kè giữa hai người khổng lồ nước ngọt Coke - Pep. Bởi vì, trước đó, Pepsi cũng vừa công bố hình thành liên minh chiến lược với Suntory (Nhật Bản) tại Việt Nam, thông qua thỏa thuận, Suntory sẽ nắm giữ 51% cổ phần của Pepsi tại Việt Nam và Pepsi giữ 49% cổ phần còn lại trong dự án.
Trước đó, Pepsi đã khai trương nhà máy với tổng vốn đầu tư 73 triệu USD tại Khu công nghiệp VSIP Bắc Ninh. Động thái tăng vốn lần này của Coca - Cola đang gây nhiều dư luận trong bối cảnh Coca- Cola liên tục báo lỗ tại thị trường Việt Nam.
Theo Cục Thuế TP.HCM, số lỗ của Coca - Cola luôn ở mức trên 100 tỷ đồng/năm trong vòng 10 năm qua, có năm gần bằng 1/3 doanh thu.
Theo tạp chí chuyên ngành đồ uống Beverage Digest (Mỹ), thị phần đồ uống có gas của Coca - Cola là 52%, của PepsiCo là 21%. Dù dẫn trước Pepsi trên thị trường toàn cầu, nhưng tại thị trường Việt Nam, do đến sau nên việc mở rộng hệ thống phân phối của Coca - Cola tỏ ra yếu thế hơn.
Sau khi chậm chân trong các hệ thống siêu thị và nhà hàng, để giữ vị thế, Coca - Cola đã phát triển kênh phân phối theo chiến thuật "du kích", tung hàng bán lẻ ở khắp hang cùng ngõ hẻm, liên tục khuyến mãi giảm giá, ưu đãi đại lý...
Để sản phẩm cung ứng nhanh tại các thị trường chiến lược, nhất là giảm chi phí vận chuyển, cạnh tranh về giá, Coca - Cola đã nhanh chóng đầu tư xây dựng nhà máy ở các khu vực trọng điểm là TP.HCM, Đà Nẵng, Hà Nội.
Coca Cola đã nỗ lực nâng cao năng lực sản xuất và phân phối bằng việc bổ sung thêm các dây chuyền sản xuất hiện đại, cung cấp các thiết bị làm lạnh mới cho khách hàng và hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương tăng doanh số bán hàng, chú trọng mở rộng sản phẩm vào các lĩnh vực như giải trí và thể thao, cửa hàng ăn nhanh và các chuỗi nhà hàng... là những địa điểm có tác động tốt và nhanh nhất đến việc quảng bá các nhãn hiệu sản phẩm mới.
Theo Hiệp hội Bia - Rượu và Nước giải khát Việt Nam, tổng doanh thu năm 2010 của PepsiCo và Coca - Cola chiếm hơn 80% thị trường nước giải khát Việt Nam, với thị phần tương đương nhau. Tính đến thời điểm hiện nay, Coca - Cola Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng trên 25% so với kế hoạch. Tuy nhiên, cho đến nay, Pepsi vẫn có ưu thế chủ động hơn so với Coca - Cola trong phát triển hệ thống phân phối.
Ngoài việc phát triển hệ thống phân phối thông qua kênh đại lý và tổng đại lý, Pepsi còn mở rộng kênh phân phối ra hầu hết các quán cà phê, các cửa hàng thức ăn nhanh. Mới đây, Pepsi ký hợp tác với Kinh Đô, một thương hiệu có hệ thống phân phối với hơn 5.000 điểm, để mở rộng mạng lưới bán hàng, phát triển thị trường sản phẩm Pepsi.
Trong chiến lược cạnh tranh và mở rộng hoạt động, Pepsi cũng mở rộng đầu tư nhà máy ở Cần Thơ đi vào hoạt động từ năm 2009, nhà máy ở Bắc Ninh được khởi công vào đầu năm 2011, dự kiến sẽ đi vào hoạt động vào giữa năm nay và năm 2012, nhà máy mới ở Đồng Nai có vốn đầu tư 45 triệu USD, công suất khoảng 180 triệu lít/năm của Pepsi cũng vừa đi vào hoạt động, nâng tổng số nhà máy của Pepsi ở Việt Nam hiện nay lên 6 nhà máy.
Sức ép "khóa càng"
Việt Nam hiện là một trong những cơ hội tăng trưởng tốt nhất của PepsiCo. Người tiêu dùng tại Việt Nam đã quen với nhiều nhãn hàng từ PepsiCo như Pepsi-Cola, 7-UP, Sting, Mirinda, Tropicana Twister, Lipton và Aquafina. PepsiCo cũng sở hữu một nhãn hàng snack địa phương Poca, phiên bản Việt Nam của sản phẩm khoai tây rán Lay trên thị trường thế giới.
- Coca-Cola có mặt tại Việt Nam lần đầu tiên năm 1960. Từ năm 1995 - 1998, lần lượt ba liên doanh của hãng này được thành lập tại miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam. Năm 2001, ba liên doanh này hợp nhất thành Công ty Nước giải khát Coca-Cola, có trụ sở tại TP.HCM. Từ năm 2004, Coca-Cola Việt Nam được chuyển giao cho Sabco, một trong những tập đoàn đóng chai danh tiếng của Coca-Cola trên thế giới. Tuy nhiên, kể từ 2012, Coca-Cola Việt Nam đã tiếp quản trở lại việc đóng chai từ Sabco tại thị trường này.
Theo ông Umran Beba, Chủ tịch PepsiCo Asia Pacific, việc mua bán này nằm trong chiến lược mở rộng hoạt động kinh doanh đồ uống và thực phẩm của Pepsi tại Việt Nam, và việc hợp tác với Suntory là một phần quan trọng trong chiến lược tăng trưởng dài hạn bền vững của Hãng ở Việt Nam.
Theo phân tích, đây là sự hợp lực nhằm thống lĩnh thị trường mà hai đối tác này đã từng áp dụng rất thành công hơn 30 năm tại các thị trường Mỹ, Nhật Bản và New Zealand.
Theo thỏa thuận, Suntory sẽ cùng với PepsiCo phát triển kinh doanh đồ uống đóng chai ở Việt Nam, với những sản phẩm mang thương hiệu Suntory, như sản phẩm trà, nước ngọt và cà phê.
Trong nỗ lực quay trở lại thị trường châu Á, đặc biệt là điểm đến mới Myanmar, Coca-Cola đã đầu tư cho thị trường Việt Nam tương đương với Pepsi. Dù cả hai đều thông báo mới ở giai đoạn xây dựng thị trường, nhưng cả hai đều đã tung hết chiêu trong việc chiếm lĩnh thị trường phân phối.
Quan sát trên thị trường, tại các trung tâm giải trí, cửa hàng thức ăn nhanh..., một thực tế dễ thấy là sự "so găng" giữa hai đại gia ngành giải khát này khá khốc liệt, ở nơi nào có Pepsi thì chắc chắn vắng bóng Coca - Cola, và ngược lại. Hợp tác giữa Coca - Cola và Co.opMart bắt đầu từ ngày 1/1/2013 cũng là một sự kiện đặc biệt kể từ khi Coca - Cola đầu tư vào Việt Nam.
Trước đó, với các "điều khoản" cam kết với Pepsi, hệ thống siêu thị Co.opMart gần như đóng cửa với Coca - Cola. Ngoài hệ thống siêu thị, trước đây, Coca-Cola và Pepsi còn giành các hợp đồng phân phối độc quyền ở các đại lý nhỏ thông qua các chương trình ưu đãi như cung cấp tủ đựng đồ, bàn ghế, ô, ly hay dịch vụ bảo trì, sửa chữa tủ lạnh miễn phí...
Cuộc chiến "khóa càng" Coke - Pep vẫn diễn ra ở nhiều kênh phân phối khác. Người thích Coca - Cola chắc chắn không bao giờ tìm thấy sản phẩm thuộc thương hiệu này trong chuỗi cửa hàng Lotteria, Chicken Express, KFC, Subway.
Và ngược lại tại hệ thống của McDonalds, người dùng chỉ có thể tìm được Coca - Cola, chứ tuyệt nhiên không có bóng dáng Pepsi. Mới đây, khi Burger King vào Việt Nam, cả Coca - Cola và Pepsi đều đưa ra những ưu đãi, hỗ trợ đặc biệt để dành quyền đưa sản phẩm vào hệ thống cửa hàng thức ăn nhanh này.
Tuy nhiên, theo bà Thủy Tiên, đại diện đơn vị mua nhượng quyền Burger King, Công ty vẫn chưa có quyết định chính thức sẽ nhận hợp tác với thương hiệu nào.
Unilever - Procter & Gamble: So kè từng centimet
Không chỉ trên phạm vi toàn cầu hai tập đoàn sản xuất hàng tiêu dùng (FMCG), Procter & Gamble (P&G) và Unilever cũng so kè nhau "từng centimet" tại thị trường Việt Nam.
Unilever: Nhanh hơn một bước chân
Nếu dựa trên yếu tố thời gian, Unilever đã nhanh chân hơn đối thủ P&G khi đặt chân đến thị trường Việt Nam vào năm 1994 (năm 1995 thành lập công ty liên doanh), trong khi, năm 1995, P&G mới chính thức gia nhập cuộc chơi.
Xét về cách tiếp cận thị trường, xem ra, Unilever linh hoạt hơn khi xác định rõ ràng chiến lược "địa phương hóa" ngay từ đầu. Điều này được thể hiện thông qua chiến lược giá (tiết giảm tối đa chi phí đầu vào để tạo ra mức giá cạnh tranh), danh mục sản phẩm và thông điệp gửi đến người tiêu dùng Việt Nam (gần gũi và liên tục thay đổi cách chuyển tải).
Nói về "cuộc chiến truyền kỳ” của hai đối thủ này, ông Nguyễn Trọng Tấn, Giám đốc Công ty LantaBrand, cho rằng, tại thị trường Việt Nam, Unilever có ưu thế hơn vì ngoài các mảng hóa mỹ phẩm, họ có thêm mảng thực phẩm (food).
Ở nhãn bột giặt, Unilever lấn lướt P&G khi OMO, VISO tỏ ra quá mạnh và có nhiều lợi thế về giá cũng như mức độ nhận diện của người tiêu dùng.
Hơn nữa, xét về độ phủ, Unilever có hệ thống phân phối khá rộng, nhất là ở vùng nông thôn. Đây là lợi thế để kích doanh số của Unilever tại thị trường Việt Nam. 
Theo Nielsen Vietnam, thị trường nông thôn chiếm đến 47% giá trị của mặt hàng FMCG (doanh thu) và có triển vọng rất lớn. Nông thôn chiếm 74% tổng dân số và chiếm 2/3 doanh số các ngành kem đánh răng và sản phẩm giặt.
Còn ông Đoàn Đình Hoàng, chuyên gia tư vấn thương hiệu, lại nhận xét, về danh mục sản phẩm và độ phủ xem ra hai bên cũng "ngang tài ngang sức". Trong khi đó, ở khâu truyền thông, các thông điệp mà Unilever phát đi có vẻ gần gũi với người Việt Nam hơn P&G.
Chẳng hạn, với nhãn bột giặt, OMO thường xuyên thay đổi đối thoại với người tiêu dùng còn Tide thì qua bao năm cũng chỉ một thông điệp là "trắng như Tide". "Việc nhắc đi nhắc lại cùng một thông điệp chỉ thích hợp với các thị trường đã phát triển như Mỹ hay châu Âu", ông Hoàng nói.
Sự áp đảo về mặt truyền thông cũng phần nào xuất phát từ chiến lược của hai bên. Theo đó, P&G đi theo chiến lược vùng còn Unilever lại xây dựng "kịch bản" riêng cho thị trường Việt Nam. Vì thế, ngân sách dành cho quảng bá sản phẩm sẽ có sự chênh nhau.
Cụ thể, năm 2002, xét trên kênh truyền hình Việt Nam, Unilever đứng đầu khi chi đến 60 tỷ đồng để quảng cáo, trong khi P&G đứng thứ 3 với 28 tỷ đồng.
Và gần đây nhất, theo khảo sát của Kantar Worldpanel, trong TOP 20 hãng chi tiêu nhiều cho quảng cáo trong năm 2011 thì UnileverBestFood &Elida P/S Vietnam., Ltd đứng thứ 8, với kinh phí 8,621 triệu USD. P&G không có mặt!
Ngoài ra, trong TOP 20 ngành hàng chi tiêu nhiều cho quảng cáo (năm 2011), mặt hàng KNORR của Unilever đứng thứ 2 (sau Dr.Thanh của Tân Hiệp Phát), với tổng kinh phí lên đến 6,94 triệu USD; trong khi, không ngành hàng nào của P&G lọt vào TOP 20.
Cùng với chiến lược phủ khắp các kênh truyền thông, mở rộng hệ thống phân phối, doanh số của Unilever kể từ năm 1995 đến nay đã không ngừng tăng trưởng, từ 10 triệu USD đã lên đến 240 triệu USD trong năm 2002 và theo thông tin bên lề, con số này năm 2011 là 800 triệu USD. Ước tính, mỗi năm, doanh số và lợi nhuận của Unilever tăng trưởng bình quân từ 30 - 35%.
Bên cạnh đó, những động thái về mặt đầu tư cũng đã thể hiện, Việt Nam là thị trường trọng điểm của Unilever khi họ đặt 5 nhà máy tại: TP.Biên Hòa (Đồng Nai), huyện Củ Chi, quận Thủ Đức (TP.HCM) và Hà Nội.
Song song với các nhà máy sản xuất, thông tin từ Ban Quản lý các Khu chế xuất - Khu công nghiệp TP.HCM, Unilever cũng đã chuẩn bị cho kế hoạch mở rộng đầu tư thêm 100 triệu USD tại Củ Chi thông qua việc đầu tư một nhà máy sản xuất hóa chất.
Về phía P&G, năm 2010, họ cũng đã đưa nhà máy sản xuất tã giấy tại Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP) II mở rộng vào hoạt động. Đây là một trong hai nhà máy mà P&G đầu tư ở Bình Dương để sản xuất các mặt hàng chăm sóc cá nhân, gia đình... tại Việt Nam.
P&G: Theo sau có hụt hơi?
Dù tại thị trường Việt Nam, Unilever đang vượt trội hơn so với P&G nhưng đây chỉ là "bảng phân hạng tạm thời", còn về dài hạn, chưa biết "mèo nào cắn mỉu nào"!
- Với P&G: Toàn cầu có gần 300 nhãn hàng, cụ thể ở các mảng: Personal & Beauty (Olay, Gillette, Head & Shoulder, Pantene...); mảng House & Home (Duracell, Tide, Downy, Pringles...); mảng Health & Wellness (Oral-B, Braum, Align); mảng Baby & Family (Luvs, Pampers, Chairmin...); mảng Pet Care & Nutrition. 
- Với Unilever: Những nhãn hiệu của Công ty được chấp nhận trên toàn cầu như: Lipton, Knorr, Omo, Close-up, Vim, Lifebouy, Dove, Sunsilk, Clear, Hazeline, Ponds... Unilever vào Việt Nam năm 1995, là tập hợp của 3 công ty riêng biệt, bao gồm: Liên doanh Lever Việt Nam (tại Hà Nội), Elida P/S (TP.HCM), và Công ty Unilever BestFood (đặt tại TP.HCM). Unilever phát triển chủ yếu 3 mảng: Home Care, Personal Care và Food Stuffs. Hệ thống phân phối của Unilever Việt Nam hiện có 150 nhà phân phối sỉ và 200.000 nhà bán lẻ. Hiện đầu tư hơn 300 triệu USD vào Việt Nam chuyển đổi thành công ty 100% vốn nước ngoài, sau khi mua lại cổ phần của Vinachem trong liên doanh vào năm 2009.
- Một vài số liệu về chi tiêu quảng cáo: TOP 20 ngành hàng chi tiêu nhiều cho quảng cáo năm 2011 có: mặt hàng KNORR của Unilever đứng thứ 2 (sau Dr.Thanh của Tân Hiệp Phát), với tổng kinh phí lên đến 6,94 triệu USD. Coca-Cola đứng vị trí thứ 6 với 5,219 triệu USD. Trong Top 20 hãng chi cho quảng cáo trong năm 2011: Coca-Cola đứng thứ 5 với tổng chi tiêu 10,371 triệu USD; UnileverBestFood & Elida P/S Vietnam Ltd đứng thứ 8 với 8,621 triệu USD và PesiCo Vietnam đứng thứ 11 với 6,846 triệu USD.
Trả lời báo giới, bà Deb Henretta, Chủ tịch Khu vực châu Á của P&G, cho rằng, từ gốc độ của người tiêu dùng, P&G với tiềm lực của một công ty đa quốc gia sẽ cố gắng để tạo ra sản phẩm thuộc nhiều phân khúc nhằm đáp ứng nhu cầu từ tỷ phú đến những người có thu nhập 1USD/ngày.
Điều này, dựa trên sự nhận biết sâu sắc về văn hóa, sở thích, tôn giáo... của người tiêu dùng châu Á hiện nay.
Thực tế thì từ trước đến nay, sản phẩm của P&G ở phân khúc cao hơn Unilever và hãng sản xuất hàng tiêu dùng của Mỹ chiếm lĩnh vị trí số 1 tại các nước phát triển (ở khu vực Bắc Mỹ, Tây Âu...), trong khi Unilever lại có ưu thế ở các thị trường đang phát triển.
Điều này có thể dễ dàng nhìn thấy qua tỉ trọng doanh thu của cả hai.
Theo đó, P&G mong đợi năm 2012 này, những thị trường đang phát triển sẽ đóng góp 37% vào tổng doanh thu toàn cầu từ 34% của năm 2010 và 23% của năm 2005; với Unilever, tỷ lệ đóng góp của thị trường đang phát triển vào tổng doanh thu trên toàn cầu đạt trên 56% (năm 2010 là 53%).
Khi thị trường ở các nước phát triển bảo hòa, P&G đang thể hiện rõ chiến lược dịch chuyển sang "lãnh địa" của Unilever.
Theo đánh giá chung, dù P&G tại Việt Nam có nhiều sản phẩm nhưng danh mục mang tính tập trung hơn so với Unilever cả về thông điệp chuyển tải lẫn công dụng của từng sản phẩm.
Chẳng hạn, trong mặt hàng dầu gội, P&G có thông điệp rất rõ ràng: Pantene (dưỡng tóc), Head&Shoulder (trị gàu), Rejoice được xem là sản phẩm để P&G "tung hỏa mù”, không phải là sản phẩm chủ lực.
Tính tập trung này cũng là sự kế thừa của P&G toàn cầu. Cụ thể, P&G có đến hơn 300 nhãn hiệu (thuộc 5 mảng) nhưng họ chỉ tập trung phát triển 22 nhãn có doanh số 1 tỷ USD và 20 nhãn 500 triệu USD để tạo thành "rổ sản phẩm" có tính cạnh tranh cao.
Với Unilever tại thị trường Việt Nam, gần đây, họ cũng không mở rộng sản phẩm như trước và chỉ giữ lại những nhãn chính.
Động thái chuyển hướng sự quan tâm của P&G đối với các thị trường đang phát triển cũng đã dần "địa phương hóa".
Chẳng hạn, với nhãn hàng nước xả Downy, theo ông Đoàn Đình Hoàng, các quảng cáo TVC đã gần gũi hơn với người Việt, trong khi đó, ở nhãn dầu gọi Head&Shoulder, P&G đã chọn những người nổi tiếng trong giới showbiz Việt chuyển tại thông điệp truyền thông, thay vì "bê” nguyên TVC từ những thị trường khác sang phát tại Việt Nam như trước.
Nói về chiến lược tại thị trường Việt Nam, ông Emre Olcer, Tổng giám đốc P&G Việt Nam, cho rằng, kinh doanh của P&G Việt Nam đang rất tốt, P&G đã tăng trưởng 15 lần trong 10 năm qua và sẽ còn tiến xa hơn nữa.
Chiến lược của P&G là đầu tư nhiều hơn nữa trong việc tiếp cận người tiêu dùng Việt Nam.
Đó cũng là lý do để các chuyên gia marketing cho rằng: cuộc đối đầu giữa Unilever và P&G Việt Nam sẽ không bao giờ có hồi kết và khó đoán được ai sẽ là người chiến thắng. 

Chia sẻ thực trạng về câu chuyện DN ngoại "nuốt chửng" ngành chăn nuôi

Theo ông Hoàng Kim Giao - cục trưởng Cục Chăn nuôi, hiện cả nước có 233 nhà máy sản xuất TACN, trong đó 58 nhà máy (24,9%) thuộc các công ty có vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm cả công ty 100% vốn nước ngoài và các công ty liên doanh) nhưng sản xuất tới 60% tổng sản lượng TACN công nghiệp quy đổi (trên 10 triệu tấn).
Công ty De Heus (Hà Lan) đầu tư vào VN cuối năm 2008, đến nay công ty đã có bốn nhà máy trong lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi và thức ăn thủy sản
Với nguồn lực tài chính dồi dào cùng công nghệ tiên tiến, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã phát triển rất nhanh chóng thời gian qua và đang dần chiếm lĩnh ngành chăn nuôi trong nước.
Phụ thuộc
Xã Sông Ray (Cẩm Mỹ, Đồng Nai) là một trong số ít địa phương còn lại có phong trào nuôi gà công nghiệp tư nhân. Thế nhưng số người tự tổ chức chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm, còn gọi là nuôi độc lập, như địa phương này đang thu hẹp lại do hiệu quả thấp trong khi rủi ro cao.
 Theo chị Nguyễn Thị Hoa - chủ trại gà trên 3.000 con tại đây, mặc dù độc lập nhưng chỉ trên danh nghĩa, còn thực tế người nuôi phụ thuộc vào các công ty nước ngoài. “Họ bán gà giống với điều kiện phải mua kèm thức ăn chăn nuôi của họ” - chị Hoa nói.
Do phụ thuộc cả con giống lẫn thức ăn, nhiều đợt người nông dân tại Sông Ray lao đao vì giá gà giống của các công ty có lúc lên đến 20.000 đồng/con nhưng có khi chỉ vài ngàn đồng/con, chưa kể những đợt có vấn đề gà chết hàng loạt. “Tiền gà giống họ bán, tiền cám họ lấy nhưng khi gà chết hàng loạt thì họ nói lỗi do chúng tôi nên không chịu đền bù” - chị Hoa tâm sự.
Do quá rủi ro, hàng loạt chủ trại gà lớn nhỏ ở khu vực Đông Nam bộ thời gian qua đã phải ngưng hoạt động hoặc chuyển sang làm gia công cho các công ty nước ngoài.
Theo anh Trần Việt Sơn (Thống Nhất, Đồng Nai), cách đây năm năm từng có trại gà lên đến gần 50.000 con nhưng chỉ sau vài năm thua lỗ đã phải nghỉ để chuyển sang nuôi gia công cho một công ty của Thái Lan.
“Từ năm 2008-2010, giá cám tăng liên tục khiến người chăn nuôi khốn khổ nên tôi quyết định chuyển qua nuôi gia công cho công ty nước ngoài” - anh Sơn cho biết.
Không chỉ chị Hoa, anh Sơn, hàng chục ngàn hộ chăn nuôi khác trên cả nước đều chuyển sang nuôi gia công do cạnh tranh quá lớn từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), đối với giống gà công nghiệp lông trắng thì các công ty nước ngoài vẫn chiếm ưu thế vượt trội, hầu như cung cấp 100% con giống ra thị trường VN. Trong đó, lúc cao điểm chỉ riêng ba công ty Japfa (Indonesia), CP (Thái Lan) và Emivest (Malaysia) bán bình quân 6 triệu gà giống/tháng cho người chăn nuôi.
Thôn tính thị trường
Không chỉ có gà công nghiệp, các lĩnh vực quan trọng khác của ngành chăn nuôi cũng đã và đang dần bị các doanh nghiệp nước ngoài “nuốt chửng”.
Đầu tư vào VN năm 1993, đến nay sau 19 năm Công ty chăn nuôi CP Thái Lan trở thành công ty chiếm thị phần lớn nhất trong nhiều ngành nghề chăn nuôi.
Ở lĩnh vực cung cấp thịt, trứng, CP là công ty hàng đầu chiếm thị phần 50% trứng gà, 30% thịt gà và 7% thịt heo. Công ty này chỉ cung cấp khoảng 5% về giống heo nhưng lại chiếm tới 8% thị phần sản phẩm từ heo trên thị trường.
Để đạt được những con số ấn tượng này, đã có trên 20.000 hộ dân khắp cả nước tham gia mạng lưới nuôi gia công hoặc đối tác với công ty theo nhiều hình thức gia công khác nhau như nuôi lấy công, nuôi bán với giá cố định hoặc cho thuê chuồng trại.
Thị phần gà công nghiệp 
Riêng ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi (TACN), các thương hiệu được người dân ưa chuộng, cùng với đó là thị phần lớn cũng đã thuộc về các công ty nước ngoài.
Theo ông Hoàng Kim Giao - cục trưởng Cục Chăn nuôi, hiện cả nước có 233 nhà máy sản xuất TACN, trong đó 58 nhà máy (24,9%) thuộc các công ty có vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm cả công ty 100% vốn nước ngoài và các công ty liên doanh) nhưng sản xuất tới 60% tổng sản lượng TACN công nghiệp quy đổi (trên 10 triệu tấn).
Thị phần TACN công nghiệp của một số công ty nước ngoài hàng đầu như CP Việt Nam chiếm khoảng 18%, New Hope 9-10%...
Trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế (2010-2012), trong khi nhiều công ty trong nước phải thu hẹp sản xuất hoặc phá sản thì các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực chăn nuôi không ngừng mở rộng thị phần.
Theo khảo sát của Cục Chăn nuôi ở 17/34 doanh nghiệp nước ngoài cho thấy tổng đầu tư các doanh nghiệp FDI là 269,7 triệu USD năm 2010 tăng lên 365,3 triệu USD năm 2012 (tăng 35,5%).
Doanh nghiệp trong nước tự bơi
Anh Nguyễn Xuân Thanh, người từng mở một nhà máy sản xuất TACN quy mô nhỏ tại Bình Dương vào năm 2003 và phải đóng cửa cuối năm 2011, phân tích nguyên nhân chính khiến doanh nghiệp trong nước “chết” là do lãi suất ngân hàng quá cao.
“Các công ty nước ngoài có nhiều vốn nên chiết khấu cho đại lý nhiều, cho khách hàng lớn trả chậm trong khi công ty tôi quy mô nhỏ không thể làm được như vậy, khách hàng dần chuyển qua các công ty đối thủ” - anh Thanh đau xót.
Không chỉ có anh Thanh, hàng trăm doanh nghiệp khác ngành sản xuất TACN trong nước cũng gặp khó khi đối mặt với các doanh nghiệp nước ngoài. Kết quả là thị phần của doanh nghiệp trong nước ngày càng bị thu hẹp trong khi các công ty FDI liên tục mở thêm nhà máy mới và mở rộng thị phần.
Anh Phạm Văn Tuấn, chủ trại gà quy mô lên đến hơn 100.000 con tại Trảng Bom (Đồng Nai) đang đứng trước nguy cơ bỏ nghề, bức xúc cho biết từ trước đến giờ chưa khi nào tiếp cận được những chính sách ưu đãi của Nhà nước.
“Chúng tôi phải tự bơi để cạnh tranh với các công ty nước ngoài đầu tư tại VN, gần đây lại thêm thịt gà nhập khẩu. Người chăn nuôi trong nước không còn đủ sức để cạnh tranh nữa” - anh Tuấn nói.
Còn ông Phạm Đức Bình, phó chủ tịch Hiệp hội TACN VN, cho rằng năm 2012 các doanh nghiệp sản xuất TACN gặp khó khăn do tồn kho nhiều và chịu lãi suất lớn. Mặc dù vậy, tỉ lệ lợi nhuận của các công ty vốn nước ngoài vẫn ở mức cao do họ có lợi thế và trữ nguyên liệu, lãi vay thấp và thị trường lớn hơn các công ty trong nước. 

Tìm hiểu vấn đề: Vân gỗ kết vân tay

Trong khuôn khổ hợp tác giữa HAWA và HAA, những kiến trúc sư thành viên của HAA đã có những chuyến tham quan nhà máy và khảo sát hoạt động sản xuất của DN thuộc HAWA. Nỗ lực liên kết này hứa hẹn một tương lai khá sáng sủa cho DN sản xuất trong hành trình tìm về thị trường nội địa.
Hội chợ Vifa Home tạo được dấu ấn kết nối DN của HAWA
Có mặt tại hội thảo "Giải pháp liên ngành đối với nhà sản xuất đồ gỗ và nhà tư vấn thiết kế Việt", chủ đề "Nội thất cho nhà phố Việt Nam", một hoạt động trong khuôn khổ của Vifahome, diễn ra từ ngày 8 - 11/11, những con số công bố về thị trường một lần nữa khiến nhiều người phải giật mình vì tiềm năng quá lớn của ngành vẫn chưa được khai thác.
Khoảng trống ngày càng lớn
Theo Trung tâm Nghiên cứu các ngành công nghiệp (CSIL) của Ý, thị trường tiêu dùng nội địa Việt Nam đang giữ vị trí thứ 22/70 quốc gia có xếp hạng và xuất khẩu đứng thứ 6/70. Ước tính, quy mô của thị trường xuất khẩu và tiêu thụ nội địa Việt Nam đạt đến 7 tỷ USD trong năm nay.
Tuy nhiên, trong khi khả năng xuất khẩu ngày một nâng cao thì cơ cấu thị trường nội địa lại là một con số khá chênh lệch. Chỉ có 20% doanh số của thị trường nội địa thuộc về sản phẩm của doanh nghiệp (DN) trong nước, 80% doanh số là từ sản phẩm nhập khẩu.
Nghĩa là, mỗi năm, Việt Nam đang nhập khẩu 2,4 tỷ USD đồ gỗ trong khi năng lực lẫn trình độ sản xuất đã chinh phục thị trường Mỹ và các nước châu Âu từ lâu. "Khoảng trống ấy phần lớn là do có khoảng cách giữa nhà sản xuất và nhà thiết kế”, kiến trúc sư Nguyễn Trường Lưu, Phó chủ tịch HAA, đánh giá.
Theo ông Lưu, ngoài hệ thống phân phối trong nước chưa được tổ chức tốt, việc DN Việt Nam chưa nắm bắt được nhu cầu tiêu dùng dẫn đến đưa ra xu hướng thiết kế không phù hợp.
Hệ quả là người dùng chưa mặn mà lắm với sản phẩm đồ gỗ nội. Thêm vào đó, đội ngũ tư vấn thiết kế tại Việt Nam cũng chưa biết được năng lực và sản phẩm của DN nội nên việc đưa ra định hướng cho người dùng cũng chỉ tập trung vào sản phẩm nhập khẩu.
Ông Khương Văn Mười, Chủ tịch HAA, tiết lộ, trong bối cảnh kinh tế phát triển nhanh những năm vừa qua, nhu cầu tư vấn, thiết kế trong xây dựng và trang trí nội, ngoại thất đã tăng nhanh.
Nếu đội ngũ tư vấn thiết kế hiểu được DN sản xuất thì đây sẽ là một kênh phát triển thị trường tốt cho DN nội địa. Đáng tiếc, hai đối tượng này đều chưa có dịp bắt tay nhau.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch HAWA, cho biết, ý tưởng liên kết đã hình thành từ nhiều năm trước nhưng sự hợp tác chưa có chiều sâu nên DN trong ngành bỏ lỡ mất cơ hội mà đội ngũ tư vấn có thể mang lại.
"HAWA sẽ đẩy mạnh liên kết với HAA để tạo nên lực đẩy cho các DN thành viên mạnh dạn hơn nữa với thị trường nội địa", ông Thắng khẳng định.
Hội bắt tay, thị trường đổi mặt?
Trong khuôn khổ hợp tác giữa HAWA và HAA, những kiến trúc sư thành viên của HAA đã có những chuyến tham quan nhà máy và khảo sát hoạt động sản xuất của DN thuộc HAWA. Nỗ lực liên kết này hứa hẹn một tương lai khá sáng sủa cho DN sản xuất trong hành trình tìm về thị trường nội địa.
Ông Trần Việt Tiến, Giám đốc Công ty CP Mỹ thuật Gia Long, phân tích: "Thành viên của HAA lên đến hơn 1.000 kiến trúc sư. Nếu tận dụng được nguồn lực này thì việc nắm bắt thị trường sẽ dễ dàng hơn rất nhiều".
Theo ông Tiến, ngoài việc thành viên hai hội phải liên kết chặt chẽ để hiểu nhau còn phải tính đến những giải pháp hợp tác lâu dài để cùng có lợi. "Nếu hợp tác này suôn sẻ, tương lai Việt Nam sẽ hình thành được thị trường mua bán ý tưởng thiết kế giữa kiến trúc sư và DN", ông Tiến cho biết.
Song song với việc liên kết để tạo sức mạnh, theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Công ty Nguyễn Thanh, DN sản xuất gỗ cũng cần phải chủ động trong việc tổ chức sản xuất để có thể chinh phục được thị trường nội địa.
Bởi, quen với quy mô sản xuất hàng loạt để phục vụ cho thị trường xuất khẩu, nếu không điều chỉnh, có thể thu nhỏ quy mô sản xuất thì cũng sẽ không tận dụng được những tư vấn mà đội ngũ thiết kế mang lại.
Hơn ba năm loay hoay với bài toán thị trường nội địa, các DN sản xuất đồ gỗ Việt Nam giờ đây lại tìm thấy hướng đi mới. Hy vọng, với việc cho vân gỗ kết hợp với vân tay lần này, thị trường đồ gỗ trong nước sẽ có những biến chuyển thuận lợi.

Cùng bạn tìm hiểu về việc gỡ nút thắt cho ngành chăn nuôi

Nhà nước sẽ tiếp tục duy trì và mở rộng các ưu đãi, hỗ trợ hiện hành đối với các dự án đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi. Các biện pháp bao gồm cho nông dân vay vốn ưu đãi để đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi, đồng cỏ để nuôi bò; hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ sản xuất chăn nuôi và chế biến thịt, sữa.
* Việt Nam có thế mạnh về nông nghiệp, trong đó một số sản phẩm là nguyên liệu đầu vào cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi (TACN). Vì sao chúng ta vẫn chưa chủ động được nguồn nguyên liệu cho ngành này?
Ông Nguyễn Xuân Dương, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi
- Những năm qua ngành chăn nuôi không hoàn toàn phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, vì một số nguyên liệu trong nước như lúa, gạo, khoai mì hay bắp cũng đã được đưa vào làm thức ăn chăn nuôi.
Tuy nhiên, do nguồn nguyên liệu trong nước có hạn, mỗi năm Việt Nam vẫn nhập khoảng 1 triệu tấn bắp, 1 triệu tấn lúa mì và gần 3 triệu tấn khô dầu đậu nành.
Riêng khô dầu đậu tương, chúng ta buộc phải nhập khẩu 100% vì loại nguyên liệu này trong nước không trồng được do sự khác biệt về thời tiết và thổ nhưỡng.
Những quốc gia xuất thức ăn chăn nuôi trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia... cũng đều phải nhập khẩu khô dầu đậu tương từ Mỹ, Argentina và Brazil.
Ngoài ra, các loại nguyên liệu khác như vitamin, khoáng vi lượng, axit amin, cũng phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.
* Phải chăng việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu khiến giá TACN trong nước luôn ở mức cao so với mặt bằng giá chung của các quốc gia khác trong khu vực?
- Giá TACN trong nước luôn ở mức cao một phần vì phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Giá nguyên liệu nhập khẩu biến động bất thường sẽ ảnh hưởng đến mặt hàng thức ăn chăn nuôi ở trong nước. Ngoài ra, hiện các doanh nghiệp vẫn đang sản xuất thức ăn chăn nuôi với quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu nên chi phí sản xuất cao, giá thành cao.
Giá TACN cao lại làm giảm sức cạnh tranh của ngành chăn nuôi trong nước, bởi chi phí TACN chiếm đến 70% giá thành sản phẩm chăn nuôi. Vì vậy, để giảm giá thức ăn chăn nuôi, ngoài việc chủ động nguồn nguyên liệu, điều quan trọng là các doanh nghiệp cần đầu tư vào công nghệ, tiến đến sản xuất với quy mô lớn.
Thực tế, ngành chăn nuôi truyền thống đã sử dụng cám gạo như một loại nguyên liệu chính trong chăn nuôi. Nhà nước đang khuyến khích các nhà khoa học nghiên cứu đưa ra giải pháp nhằm tối ưu hóa khẩu phần TACN, trong đó làm sao tận dụng được nguồn cám gạo trong nước.
Sử dụng hiệu quả những phụ phẩm của lúa gạo sẽ giúp ngành chăn nuôi tiết kiệm được lượng ngoại tệ hiện dùng để nhập khẩu các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi.
Ngoài ra, ngành chăn nuôi cần sử dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu sẵn có và lượng nguyên liệu nhập khẩu, nhằm giảm thất thoát nguyên liệu trên một đơn vị sản phẩm TACN. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải sản xuất với quy mô lớn và khép kín nhằm giảm giá thành và tránh thất thoát.
Để tránh phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, ngành chăn nuôi cũng cần sớm xây dựng vùng nguyên liệu cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.
* Vấn đề này đã được nói nhiều trong những năm qua. Điều quan trọng là Nhà nước đã có những giải pháp nào trong thời tới để tiến đến việc hình thành vùng nguyên liệu ổn định cho ngành sản xuất TACN, thưa ông?
- Cục Chăn nuôi đã có chủ trương và kiến nghị những chính sách. Ngân sách nhà nước nên hỗ trợ vốn dưới hình thức cho nhà đầu tư vay để xây dựng các hạng kết cấu hạ tầng cứng và mềm cần thiết và sử dụng lâu dài tại vùng nguyên liệu TACN.
Ngân sách nhà nước và các tổ chức tín dụng triển khai các hình thức tín dụng ưu đãi cho người chăn nuôi và doanh nghiệp để đầu tư trực tiếp vào các hoạt động trồng trọt để tạo vùng nguyên liệu TACN đáp ứng yêu cầu kinh doanh có hiệu quả.
Chính quyền tỉnh và các huyện có vùng nguyên liệu TACN của dự án FDI có trách nhiệm bảo vệ và duy trì các vùng nguyên liệu đã quy hoạch cho dự án FDI để đảm bảo cung cấp đầy đủ nguyên liệu tập trung cho nhà đầu tư.
Ngoài ra, cần xác định quyền và trách nhiệm cho nhà đầu tư trong việc đưa ra các biện pháp bảo vệ vùng nguyên liệu TACN của họ.
Nhà nước nghiên cứu đưa ra các quy định phù hợp về cả quyền và trách nhiệm của nhà đầu tư với vùng nguyên liệu TACN, đủ đảm bảo giúp nhà đầu tư duy trì và phát triển các vùng nguyên liệu TACN, đồng thời có chính sách hỗ trợ nhà đầu tư xây dựng hạ tầng của vùng nguyên liệu theo quy hoạch.
Đồng thời nhà nước sẽ cùng nhà đầu tư chăm lo xây dựng các cơ sở văn hóa giáo dục, cơ sở hạ tầng của nông thôn của các cộng đồng dân cư vùng nguyên TACN liệu nhằm gắn lợi ích của họ với vùng nguyên liệu
* Ông có thể cho biết định hướng phát triển ngành chăn nuôi trong thời gian tới?
- Nhà nước có chủ trương và đang thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu đàn vật nuôi theo hướng tăng tỷ trọng gia cầm, tiếp tục phát triển chăn nuôi lợn, gia súc lớn.
Ngành chăn nuôi sẽ chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại, nông hộ nhưng theo hình thức công nghiệp và áp dụng công nghệ kỹ thuật cao trong chăn nuôi.
Nghiên cứu phát triển chăn nuôi ở quy mô vừa phải, phù hợp với khả năng tài chính, quản lý và xử lý môi trường. Nhà nước sẽ có những chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sản xuất khép kín, liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị.
Phát triển mạnh công nghiệp chế biến, đa dạng hóa các sản phẩm chăn nuôi để nâng cao giá trị gia tăng. Và quan trọng nhất, việc hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi, giảm giá thức ăn chăn nuôi bằng với mức thấp của các nước trong khu vực sẽ được ưu tiên thực hiện trong thời gian tới.
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng vật tư và an toàn vệ sinh thực phẩm trong chăn nuôi. Hoàn thiện hệ thống pháp chế quản lý giống, TACN và môi trường chăn nuôi phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.
* Vai trò của người nông dân và các hộ chăn nuôi ở đâu trong định hướng phát triển này, thưa ông?
- Nhà nước sẽ tiếp tục duy trì và mở rộng các ưu đãi, hỗ trợ hiện hành đối với các dự án đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi. Các biện pháp bao gồm cho nông dân vay vốn ưu đãi để đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi, đồng cỏ để nuôi bò; hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ sản xuất chăn nuôi và chế biến thịt, sữa.
Trong thời gian tới, Nhà nước sẽ áp dụng hạn ngạch thuế quan thay thế cho biện pháp cấm và áp dụng hạn ngạch về khối lượng nhập khẩu đối với sữa đồng thời đánh thuế nhập khẩu theo mùa, tiếp tục áp dụng biện pháp ưu đãi thuế thu nhập đối với các dự án đầu tư ứng dụng công nghệ sinh học trong sinh sản vật nuôi như chọn tạo giống vật nuôi mới, tinh, phôi, chế biến sản phẩm chăn nuôi.
Ngoài ra cũng có chính sách trợ cấp cho người chăn nuôi và các doanh nghiệp chăn nuôi khi bị tổn thất vì thiên tai, dịch bệnh và bị rủi ro về biến động giá thị trường sản phẩm chăn nuôi; biện pháp lập và sử dụng quỹ bảo hiểm chăn nuôi cho các trường hợp rủi ro trong chăn nuôi.
* Xin cảm ơn ông! 

Chia sẻ với bạn về thị trường xe máy: Giảm doanh thu vẫn mạnh đầu tư

Điều đó thể hiện vị trí của Việt Nam trong chiến lược phát triển của Tập đoàn Piaggio tại châu Á. Không chỉ lớn mạnh về mặt số lượng, điều quan trọng hơn cả là sự có mặt rất sớm của nhà máy sản xuất động cơ và trung tâm nghiên cứu và phát triển trong Tổ hợp công nghiệp Piaggio đặt tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Đua nhau "tung hàng"
Liên tục từ tháng 7 đến nay, các doanh nghiệp (DN) sản xuất xe máy đã tung ra thị trường những mẫu xe mới.
Nếu như đầu tháng, Yamaha Việt Nam có chiếc Nozza phiên bản đặc biệt với màu đen toàn xe, mạ crom một số chi tiết và yên xe có họa tiết mới, lập tức, thương hiệu xe Kymco đã nâng cấp mẫu xe Candy 4U 110cc bằng một cái tên mới là Candy Hi 110 cùng kiểu dáng được trau chuốt hơn dành cho giới nữ.
Không bỏ lỡ cơ hội, Honda Việt Nam đã tung ra mẫu SH 2012 mới, với 2 phiên bản 125cc và 150cc. Tuy không thay đổi quá nhiều về thiết kế tổng thể, nhưng Honda SH mới được trang bị công nghệ hiện đại nhất thị trường Việt Nam hiện nay.
Ngay sau Honda, đến lượt Piaggio Việt Nam ra mắt xe tay ga phiên bản thể thao Liberty S 125 ie với màu ghi lần đầu xuất hiện trên thị trường xe tay ga.
Không thể để Piaggio một mình "tung chiêu", giữa tháng 9, Honda Việt Nam tiếp tục ra mắt phiên bảng xe PCX với nhiều cải tiến về "ngoại hình" và cả động cơ.
Đúng một tháng rưỡi sau khi Honda ra mắt xe PCX mới, ngày 31/10, Piaggio đã tung ra thị trường dòng Vespa LX và Vespa S với động cơ 3 van phun xăng điện tử hoàn toàn mới.
Mẫu xe này được Piaggio Việt Nam thay đổi gần như toàn bộ động cơ giúp giảm tiêu hao nhiên liệu 30% so với động cơ thế hệ trước. Cụ thể, động cơ 3 van cho phép đạt mức tiêu thụ 2,2lít/100km tại vận tốc ổn định 50km/h, cho phép thời gian tăng tốc nhanh hơn và tốc độ tối đa lớn hơn.
Chỉ sau đúng 4 ngày chiếc Vespa LX và Vespa S ra thị trường, Honda Việt Nam lại ra mắt mẫu xe Vision cải tiến. Và nhiều đồn đoán, từ nay đến cuối năm, Honda sẽ còn "chào hàng" thêm mẫu xe mới đến người tiêu dùng.
Trong khi đó, tuy không có những hoạt động rầm rộ như các hãng xe máy khác tại Việt Nam nhưng Kymco cũng đã giới thiệu đến khách hàng mẫu xe tay ga Many Fi 125 dành cho nữ giới. Như vậy, chỉ trong 4 tháng, đã có 9 mẫu xe tay ga mới được các hãng tung ra thị trường.
Cùng với việc "tung hàng" mới, các hãng cũng tích cực thực hiện các chương trình kích cầu mua sắm. Trong đó, Honda Việt Nam áp dụng chương trình hỗ trợ lệ phí trước bạ cho khách hàng mua xe Honda Air Blade (hai đợt vào tháng 7 và 9), tặng phiếu quà tặng trị giá đến 2 triệu đồng cho khách hàng mua xe PCX, tặng quà cho khách mua xe Wave, Vision...
Không chỉ thế, các đại lý xe còn "o bế” khách hàng bằng việc bán trả góp. Bất cứ đại lý nào của các hãng Honda, Yamaha, Suzuki..., khách hàng cũng được nhân viên chào mời mua xe trả góp.
Theo các DN, trong lúc tiêu thụ xe máy giảm sút mạnh thì việc tập trung vào phân khúc xe tay ga vốn vẫn rất có tiềm năng bằng cách đưa ra các sản phẩm mới giá cạnh tranh hơn và đẩy mạnh khuyến mãi là cách tốt nhất để làm sôi động thị trường, lấy lại doanh số bán hàng.
Thách thức từ Piaggio
Thừa nhận thị trường xe máy đang khó khăn nhưng hầu hết các DN khi được hỏi đều cho rằng, đây là tình trạng tạm thời trong thời điểm kinh tế khủng hoảng chứ vẫn chưa thể bảo hòa.
Về lâu dài, thị trường xe máy vẫn sẽ phát triển mạnh. Ông Masayuki Igarashi, Tổng giám đốc Công ty Honda Việt Nam cho rằng, tiềm năng của thị trường xe máy tại Việt Nam rất lớn và vì thế Honda Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển cả sản xuất lẫn mở rộng bán hàng.
Ông Giuseppe Messina, Giám đốc Marketing Chiến lược Piaggio châu Á - Thái Bình Dương cũng cho rằng, Việt Nam là một trong những thị trường xe máy lớn nhất trên thế giới. Đối với Piaggio, đây là một thị trường có vai trò quan trọng.
Hiện nay, có một bộ phận người có thu nhập cao và mong muốn tìm kiếm những sản phẩm độc đáo. Họ muốn được nhìn nhận là những cá nhân trẻ trung và hiện đại. Vì lẽ đó, thị trường xe máy tại Việt Nam đang chứng kiến một sự chuyển dịch từ phân khúc xe số sang xe tay ga.
Với xu hướng dịch chuyển trên của thị trường xe máy, và danh mục xe tay ga cao cấp đa dạng và phong phú dành cho các đối tượng khách hàng khác nhau, Piaggio rất lạc quan về thị trường Việt Nam về lâu dài.
Hiện nay, quy mô đầu tư của hãng tại Việt Nam là 90 triệu USD. Nếu so với mức đầu tư ban đầu vào năm 2007 là 30 triệu USD, thì có thể thấy một sự thay đổi mạnh mẽ.
Điều đó thể hiện vị trí của Việt Nam trong chiến lược phát triển của Tập đoàn Piaggio tại châu Á. Không chỉ lớn mạnh về mặt số lượng, điều quan trọng hơn cả là sự có mặt rất sớm của nhà máy sản xuất động cơ và trung tâm nghiên cứu và phát triển trong Tổ hợp công nghiệp Piaggio đặt tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Nhà máy động cơ của Piaggio có công suất 300.000 sản phẩm/năm, phục vụ cho sản xuất tại Ý, Việt Nam và Ấn Độ.
"Cách đây 4 năm, Vespa chỉ được sản xuất tại Ý. Còn hiện giờ, trên quy mô toàn cầu, Việt Nam và Ấn Độ là hai địa điểm mà Piaggio có cả nhà máy lắp ráp và nhà máy sản xuất động cơ, và chúng tôi sẽ dần đưa nhà máy tại Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất của tập đoàn tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương", ông Giuseppe Messina cho biết.

Đâu là lí do cho sự việc bán lẻ chuyên biệt sẽ thay thế siêu thị tổng hợp?

Sự xuất hiện của loại hình bán lẻ chuyên biệt về dược phẩm, mỹ phẩm, hàng điện tử -điện máy… được tổ chức thành chuỗi cửa hàng với ý tưởng thống nhất đã cho thấy xu hướng của người tiêu dùng tại Việt Nam đang dần chuyển dịch từ việc dành phần lớn thu nhập cho việc mua thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu sang tiêu dùng những mặt hàng cao cấp và có giá trị cao hơn, như hàng điện tử, mỹ phẩm và dược phẩm, thực phẩm dinh dưỡng chức năng.
Mô hình bán lẻ chuyên biệt được xem là xu hướng khả thi để đương đầu với sự cạnh tranh khốc liệt hiện nay.

Những con số ấn tượng
Cách đây 3 năm, ông Đào Xuân Khương, Chủ tịch HĐQT Công ty KCP chuyên tư vấn về phân phối bán lẻ đã nhận định, siêu thị tổng hợp đã đến giai đoạn già cỗi và sẽ được thay thế bởi siêu thị bán lẻ chuyên biệt.

Theo ông Khương, mô hình bán lẻ chuyên biệt đem lại lợi ích cho cả ba bên. Trong đó, khách hàng thuận tiện hơn trong việc lựa chọn và mua sắm: mỗi sản phẩm có nhiều thương hiệu, mẫu mã, tính năng để trải nghiệm và lựa chọn; nhà sản xuất dễ dàng thiết lập hệ thống phân phối hiện đại thông qua chuỗi siêu thị và thương mại điện tử; nhà bán lẻ có chiến lược dài hạn hơn để đầu tư xây dựng thương hiệu và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Mô hình bán lẻ chuyên biệt đem lại lợi ích cho cả ba bên - khách hàng, nhà sản xuất và nhà phân phối
Những lợi ích đó khiến các nhà bán lẻ trên thế giới không thể làm ngơ và Việt Nam không là ngoại lệ. Nếu quan sát kỹ, có thể thấy, việc các “đại gia” bán lẻ ngoại thâm nhập thị trường Việt Nam đã tạo kiểu mua sắm mới cho người tiêu dùng, như tạo sự phân hóa rõ ràng, chia nhỏ thành từng khu, theo nhóm mặt hàng.

Nằm trong xu hướng chung đó, một số nhà bán lẻ chuyên biệt Việt Nam đã có những bước phát triển ngoạn mục, với những con số khá ấn tượng.

Trong số 10 nhà bán lẻ Việt Nam lọt vào Top 500 nhà bán lẻ hàng đầu châu Á – Thái Bình Dương 2012 do Tạp chí bán lẻ châu Á (Retail Asia) và Tập đoàn Nghiên cứu thị trường Euromonitor tổ chức, phần lớn thuộc mô hình bán lẻ chuyên biệt.

Đứng đầu vẫn là Công ty TNHH một thành viên Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC). Sau 4 năm liền là doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam lọt vào danh sách này, SJC không ngừng tập trung đầu tư, mở rộng hệ thống bán lẻ trên khắp cả nước. Đến cuối năm 2011, hệ thống bán lẻ của SJC đã có 186 cửa hàng, với doanh thu 20.579 tỷ đồng, chiếm 18,5% tổng doanh thu của SJC.

Gia nhập thị trường bán lẻ chuyên về điện máy – điện tử từ năm 1990, Nguyễn Kim đã trải qua một thời gian dài theo chiến lược bán lẻ, từ một trung tâm chuyên ngành điện máy đầu tiên, đến năm 2007, Nguyễn Kim mở thêm 2 trung tâm mới, năm 2010 thêm 1 trung tâm, năm 2011 có thêm 5 trung tâm và từ đầu năm đến nay đã mở thêm 6 trung tâm.

Bất chấp thảm cảnh của ngành kinh doanh điện máy, khi nhiều doanh nghiệp phá sản và thu hẹp quy mô, hệ thống siêu thị điện máy Nguyễn Kim vẫn đạt doanh thu 7.000 tỷ đồng (350 triệu USD) trong năm 2011, tăng 35% so với năm 2010. Không dừng lại ở đó, ông chủ Nguyễn Kim còn đặt mục tiêu đạt mức tăng trưởng bình quân 50%/năm trong 3 năm tới, với hướng chiến lược mới, trong đó có kế hoạch niêm yết.

Hay như Viễn thông A (VTA) cũng 3 lần lọt vào danh sách này, với mức tăng trưởng đều đặn. Cụ thể, năm 2011, doanh thu của VTA tăng 10% so với năm 2010, dự kiến năm nay tăng 20% và năm 2013 tăng 30%, với đóng góp chủ yếu từ dòng sản phẩm smartphone.

Chuyên biệt tới đâu?

So với những gì đang diễn ra tại các nước phát triển khác, bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam, thay vì phát triển mạnh dựa trên hình thức kinh doanh rất đặc thù về sản phẩm và dịch vụ, lại chuyên về ngành hàng và dịch vụ, như các chuỗi siêu thị về điện máy, điện thoại di dộng, điện tử... Do đó, các cửa hàng có điểm chung là sản phẩm nhập từ các nhà cung cấp, nên ít có sản phẩm riêng, đặc thù của nhãn hiệu nào đó.

Đánh giá về tình hình bán lẻ chuyên biệt tại Việt Nam, ông Đào Xuân Khương cho rằng, mặc dù các nhà bán lẻ đang kinh doanh khả quan, nhưng chưa đúng bản chất của mô hình bán lẻ chuyên biệt.

“Không hiểu rõ nhu cầu chuyên biệt của người tiêu dùng, nên chủng loại và cơ cấu hàng hóa không phối kết hợp được với nhau để thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Chẳng hạn, hành vi của khách hàng khi vào một cửa hàng chuyên biệt bán cà phê, bên cạnh việc lựa chọn cà phê, họ còn mua sữa, đường… Do vậy, nhà bán lẻ cần sắp xếp những sản phẩm này cạnh nhau để khách hàng lựa chọn và có thể bán được nhiều sản phẩm cùng lúc, thay vì chỉ bán được mỗi cà phê. Hay như tại các showroom ô tô, bên cạnh những chiếc ô tô, chủ showroom phải trưng bày cả đĩa nhạc, đồ chơi ô tô, sách về luật giao thông…”, ông Khương phân tích.

Bà Hoàng Ngọc Vy, Tổng giám đốc VTA thừa nhận, khó khăn mà VTA gặp phải khi phát triển theo mô hình này là khả năng chuyên biệt về một nhãn hiệu, bởi khả năng liên kết với kênh phân phối còn yếu và thói quen tiêu dùng của nhiều khách hàng vẫn theo hướng bán lẻ tổng hợp.

Xác định trong thời gian tới, mô hình này sẽ phát triển mạnh hơn tại Việt Nam, VTA đang phát triển sản phẩm chuyên biệt hơn. Cụ thể, trong chuỗi hệ thống siêu thị điện thoại di động - laptop của mình, VTA đã có 9 trung tâm smartphone chuyên cung cấp sản phẩm trong và ngoài nước, từ giá rẻ đến cao cấp, từ phổ biến đến mới nhất trên thị trường.

Ngoài chuyên biệt về sản phẩm, dịch vụ hậu mãi cũng là vấn đề được VTA quan tâm hàng đầu. Trung tâm smartphone Viễn thông A tạo ra một không gian số cho khách hàng thoải mái khám phá, trải nghiệm sản phẩm họ yêu thích…

Hai điểm yếu của các nhà bán lẻ Việt Nam

Sự xuất hiện của loại hình bán lẻ chuyên biệt về dược phẩm, mỹ phẩm, hàng điện tử -điện máy… được tổ chức thành chuỗi cửa hàng với ý tưởng thống nhất đã cho thấy xu hướng của người tiêu dùng tại Việt Nam đang dần chuyển dịch từ việc dành phần lớn thu nhập cho việc mua thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu sang tiêu dùng những mặt hàng cao cấp và có giá trị cao hơn, như hàng điện tử, mỹ phẩm và dược phẩm, thực phẩm dinh dưỡng chức năng.

Rõ ràng, bán lẻ chuyên biệt có thể là một xu hướng khả thi để đương đầu với sự cạnh tranh khốc liệt. Tuy nhiên, ông Khương cho hay, bên cạnh việc chưa đi theo đúng mô hình của bán lẻ chuyên biệt, hiện còn có hai điểm yếu mà các nhà bán lẻ Việt Nam chưa làm được.

Thứ nhất, đội ngũ nhân sự chưa đáp ứng được mong đợi của người tiêu dùng. Người tiêu dùng tìm đến cửa hàng chuyên biệt không chỉ mua sản phẩm, mà cần tư vấn sâu về chuyên môn. Trong một cửa hàng bán hàng ngàn chủng loại sản phẩm, nhân viên phải làm sao tư vấn được cho khách hàng về sản phẩm, như họ cần dùng sản phẩm nào cho phù hợp với nhu cầu và túi tiền, sản phẩm có ưu thế gì…
Thứ hai, các cửa hàng bỏ quên việc cung cấp các sản phẩm thay thế. Vì không hiểu người tiêu dùng cần gì, nên các cửa hàng mua một dòng sản phẩm về trưng bày, mà không có các phụ kiện đi cùng…

Bên cạnh đó, theo ông Khương, nhà bán lẻ phải có dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp cả trước và sau khi khách hàng mua sản phẩm. Cụ thể, dịch vụ chăm sóc sau bán hàng phải bao hàm cả việc tiếp tục theo dõi sản phẩm mà mình đã bán cho khách hàng xem sản phẩm đó được sử dụng hiệu quả như thế nào. Đặc biệt, nhu cầu người tiêu dùng sành điệu luôn thay đổi trong thời gian ngắn, nên nhà bán lẻ cần có thêm dịch vụ mua cũ, đổi mới.

“Sự cạnh tranh giữa các siêu thị chuyên biệt không phải là chất lượng hàng hoá, mà là chất lượng dịch vụ, vì khách hàng mục tiêu của mô hình này là người tiêu dùng sành điệu”, ông Khương khẳng định.

Chia sẻ với bạn sự việc kinh doanh e-book: Muốn lời phải lỗ

Được thị trường nhiệt tình đón nhận, Kindle nhanh chóng trở thành một trong những thiết bị phổ biến nhất nước Mỹ. Tất nhiên, toàn bộ e-book của Amazon đều được mã hóa dưới định dạng dành riêng cho Kindle và rất khó để đọc được trên các thiết bị khác. Amazon còn lấn sân sang iPad với phần mềm “Kindle for iOS” cho phép đọc e-book do họ cung cấp ngay trên thiết bị của Apple.
Âm thầm nhưng không kém phần quyết liệt, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang dốc sức chiếm lĩnh thị trường sách điện tử (e-book) giàu tiềm năng.
Sách điện tử đang là thị trường đầy tiềm năng
Lạc Việt, First News, Vinabook hay Công ty Cổ phần Văn hóa Phương Nam là những nhà cung cấp e-book tiên phong trong lĩnh vực này. Năm ngoái, First News đạt được thỏa thuận với Samsung để tích hợp bộ sách Hạt Giống Tâm Hồn vào dòng máy tính bảng Galaxy Tab tại Việt Nam.
Mới đây, Phương Nam cũng vừa đưa vào hoạt động nhà sách Phương Nam e-book tại Trung tâm Thương mại Vincom, Q.1, TP. HCM. Nhà sách này cho phép khách tham quan tiếp cận sách qua nhiều hình thức khác nhau từ điện thoại, máy tính bảng tới các thiết bị đọc sách điện tử chuyên dùng.
Lạc Việt cũng vừa đưa vào hoạt động website sachbaovn.vn với trên 5.000 ấn phẩm có bản quyền cung cấp bởi hơn 50 nhà cung cấp nội dung trong nước. Đặc biệt, sách báo điện tử do Lạc Việt cung cấp được mã hóa theo định dạng riêng và chỉ có thể đọc được bằng Lac Viet Reader (phần mềm miễn phí). Khách mua e-book tại website này có thể thanh toán trực tuyến một cách đa dạng bằng thẻ tín dụng, thẻ ATM và cả thẻ cào điện thoại...
Bài bản là vậy, nhưng Lạc Việt vẫn chưa có lãi từ kinh doanh e-book. Khởi động từ năm 2008 đến nay với tổng vốn đầu tư 20 tỉ đồng, nhưng doanh thu từ e-book của Lạc Việt cũng chỉ hơn 1 tỉ đồng/năm.
Theo ông Hà Thân, Tổng Giám đốc Lạc Việt, mấy năm nay Công ty vẫn đang phải dùng nguồn thu từ mảng kinh doanh phần mềm để nuôi dịch vụ e-book.
E-book là một mảng kinh doanh còn khá mới mẻ trên thế giới và các tập đoàn lớn vẫn đang trên đường tìm ra một mô hình kinh doanh hợp lý nhất cho loại hình sản phẩm này. Hãy nhìn vào những điều mà Amazon đã làm được trên thị trường e-book Mỹ để thấy được một chiến lược đầy tính toán của họ.
Khi Amazon giới thiệu dòng thiết bị e-reader Kindle ra thị trường vào năm 2007, tập đoàn này đã ngay lập tức chiếm đến 90% doanh số e-book trên toàn nước Mỹ.
Với ý định tiếp tục gia tăng thị phần, Amazon quyết định bán e-book với mức giá thấp hơn chi phí bản quyền trả cho nhà xuất bản (bán lỗ) nhằm triệt tiêu những đối thủ còn lại trên thị trường, trong đó có Apple.
Tổng Giám đốc của Apple khi đó là Steve Jobs trong nỗ lực phá vỡ thế độc quyền của Amazon đã đề xuất hình thức kinh doanh e-book chia hoa hồng với các nhà xuất bản. Theo đó, năm nhà xuất bản lớn nhất nước Mỹ đã đồng ý để Apple bán e-book với mức giá sàn do chính họ đưa ra và cho Apple hưởng 30% doanh thu. Mất đi lợi thế giá thấp, thị phần e-book của Amazon tại Mỹ giảm xuống còn 60% (2012). Apple giành được 10% thị trường và Barnes & Noble được 25%.
Tuy nhiên, phán quyết được Sở Tư pháp Mỹ đưa ra vào tháng 4 năm nay đã trao cho Amazon cơ hội khuynh đảo thị trường e-book một lần nữa.
Theo phán quyết trên, Apple và năm nhà xuất bản lớn bị quy tội làm giá và phải điều đình lại với Amazon về mức giá sàn cho các sản phẩm e-book tại thị trường Mỹ. Trước mắt, đây là tin vui cho người tiêu dùng Mỹ vì giá bán e-book sẽ giảm. Còn về lâu dài, Amazon sẽ được hưởng lợi nhiều nhất vì tập đoàn này sẽ có thể tiếp tục thực hiện chính sách bán lỗ để thâu tóm thị trường.
Trên thực tế, chiến lược giá thấp cho thị trường e-book đã được Amazon định hình từ khi tung ra Kindle. Trước khi thiết bị e-reader của Amazon này ra đời, hầu như chưa có sản phẩm nào chiếm được thị phần từ tay iPad của Apple. Với mức giá khởi điểm 199 USD của Kindle (thấp hơn iPad đến 300 USD), hãng tư vấn IHS iSuppli (Mỹ) tính toán rằng với mỗi chiếc máy Kindle bán ra, Amazon lỗ ít nhất 2-3 USD. Amazon chấp nhận điều này để quyết tâm giành thị trường e-book.
Được thị trường nhiệt tình đón nhận, Kindle nhanh chóng trở thành một trong những thiết bị phổ biến nhất nước Mỹ. Tất nhiên, toàn bộ e-book của Amazon đều được mã hóa dưới định dạng dành riêng cho Kindle và rất khó để đọc được trên các thiết bị khác. Amazon còn lấn sân sang iPad với phần mềm “Kindle for iOS” cho phép đọc e-book do họ cung cấp ngay trên thiết bị của Apple.
Với độ phủ rộng của thiết bị Kindle cùng mức giá e-book cực thấp, không thể phủ nhận khả năng tiếp tục thành công trong tương lai của Amazon ở thị trường nội dung số đầy tiềm năng.
Tuy áp đảo thị trường, nhưng chiến lược cạnh tranh e-book của Amazon đã làm dấy lên những lo ngại về vấn đề độc quyền. Theo hãng tư vấn Navint Partners (Mỹ), tỉ suất lợi nhuận của Amazon hiện nay đã thấp hơn các đối thủ khác đến 80%. Một khi Amazon đã nắm được thị trường e-book trong tay, sẽ có ít nhất hai khả năng xảy ra.
Ở trường hợp thứ nhất, họ sẽ tăng giá e-book và đặt gánh nặng chi phí lên người tiêu dùng. Khi đó, khách hàng mua e-book của Amazon sẽ không còn sự lựa chọn nào khác là phải trả thêm tiền để tiếp tục đọc và lưu giữ bộ sưu tập e-book của họ.
Còn nếu Amazon không làm như vậy thì áp lực sẽ dồn về phía những nhà xuất bản và các tác giả sách. Họ sẽ phải chấp nhận bất cứ điều khoản hợp đồng nào được Amazon đưa ra nếu muốn xuất bản được e-book trên hệ thống này. Và đó là cái giá mà thị trường e-book Mỹ sẽ có thể phải nhận lấy nếu để tình trạng độc quyền diễn ra.